-
Biểu hiện chính của suy tim
1. Khó thở khi gắng sức:
Khó thở ở đây có nghĩa là người bệnh phải khó nhọc hơn bình thường mới thở được. Có người dùng những từ khác để chỉ triệu chứng khó thở như hụt hơi, ngắn hơi, thở gấp, tức thở. Người ngoài nhìn cũng thấy bệnh nhân thở nhanh hơn, nông hơn và có vẻ khó nhọc hơn.
Đây là triệu chứng hay gặp nhất của suy tim.
Khi suy tim mới bắt đầu, chỉ khi nào hoạt động nặng, khi nào gắng sức mới khó thở, vì thế gọi là khó thở gắng sức. Tất nhiên người bình thường cũng thấy khó thở khi làm nặng, những người suy tim dễ bị khó thở hơn nhiều. Dần dần suy tim càng nặng bao nhiêu thì người bệnh càng khó thở nhiều, thậm chí có người chỉ bước lên vài bậc thềm, hoặc tự tắm giặt kỳ cọ cũng khó thở. Cuối cùng, người bệnh khó thở cả khi ngồi nghỉ không làm gì cả.
Người bệnh nên chú ý nhận xét xem mình gắng sức đến mức nào thì bắt đầu khó thở, để đánh giá mức độ khó thở.
Khó thở độ 1: chỉ khó thở khi đi nhanh (rảo bước) hoặc lên dốc.
Khó thở độ 2: khó thở cả khi đi đường bằng, cùng tốc độ, với những người cùng tuổi.
Khó thở độ 3: đi đường bằng, một mình, cũng phải ngừng lại để thở sau từng quãng.
Khó thở độ 4: chỉ cần tự tắm rửa hoặc tự mình mặc quần áo cũng khó thở.
Có thể theo bảng trên để tự đánh giá kết quả điều trị. Nếu trước khi điều trị khó thở độ 3 chẳng hạn, mà sau dùng thuốc khó thở “xuống” độ 2, thì tức là bệnh đỡ, chữa kết quả tốt. Nhưng nếu khó thở “lên độ” thì phải xem lại cách điều trị.
Nên chú ý rằng “gắng sức” ở đây chỉ tính đến những gắng sức về thể lực như lên dốc, mang vác nặng, chạy nhảy, đi ngược gió,v.v.. Đó là những gắng sức tiêu thụ nhiều oxy. Các gắng sức về trí óc như suy nghĩ tìm cách giải quyết một vấn đề gì, tập trung tư tưởng học tập, lo lắng vì kinh tế khó khăn thì không đòi hỏi nhiều oxy nên cũng không gây khó thở và suy tim.
Khó thở như vậy tất nhiên ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của người suy tim. Tuỳ theo ảnh hưởng ít hay nhiều, người ta xếp các bệnh nhân tim làm 4 loại (theo Hội tim New York):
Bệnh nhân tim loại I: tuy có bệnh tim, nhưng người bệnh chưa thấy triệu chứng gì của suy tim dù lúc nghỉ ngơi hay khi gắng sức, sinh hoạt hàng ngày vẫn bình thường, chưa bị ảnh hưởng. Có thể coi là suy tim tiềm tàng.
Bệnh nhân tim loại II: sinh hoạt hàng ngày đã bị ảnh hưởng nhẹ, nghỉ ngơi thì không có triệu chứng gì, nhưng hoạt động thường nhật đã thấy khó thở. Có thể gọi là suy tim nhẹ.
Bệnh nhân tim loại III: sinh hoạt bị ảnh hưởng mức độ trung bình, nghĩa là nghỉ ngơi vẫn không có triệu chứng gì, nhưng chỉ hoạt động nhẹ hơn thường nhật đã thấy khó thở rồi. Đây là suy tim trung bình.
Bệnh nhân tim loại IV: sinh hoạt bị ảnh hưởng nhiều, cả khi nghỉ ngơi cũng thấy khó thở, chỉ làm được những việc rất nhẹ. Suy tim ở đây được coi là nặng.
Cách xếp loại như trên được công nhận rộng rãi, nhiều thầy thuốc áp dụng. Vì nó đơn giản dễ nhớ, người bệnh có thể tự mình nhận định lấy, giúp cho thầy thuốc chữa tốt hơn. Hội tim mạch Việt Nam cũng khuyến cáo nên theo cách xếp loại này.
Cũng nên hiểu qua tại sao suy tim lại làm bệnh nhân khó thở? Vì “bơm” tim bị yếu, không hút được máu từ phổi về, nên phổi bị ứ huyết, nhiều dịch thấm từ mao mạch phổi ra khoảng gian bào (giữa các tế bào phổi). Do đó phổi mất tính đàn hồi trở nên cứng đờ, các cơ thở phải mất nhiều công sức mới làm phổi giãn ra để không khí lọt vào được. Như vậy chúng vừa phải làm việc nhiều hơn, mà lại chỉ nhận được ít oxy hơn, cũng do suy tim, nên chóng mệt hơn.
Triệu chứng khó thở này rất đặc trưng cho suy tim, nhưng lại làm cho bệnh nhân và đôi khi cho cả thầy thuốc ít kinh nghiệm nữa tưởng là do bệnh phổi và đi khám lao hoặc khám hen. Chúng tôi đã gặp nhiều bệnh nhân đã đi “vái tứ phương” nhất là “phương” bệnh viện lao, bệnh viện phổi, bệnh viện dị ứng, cuối cùng mới đến “phương” đúng là bệnh viện tim mạch!
2. Khó thở khi nằm:
Triệu chứng này thường xuất hiện muộn hơn, sau một thời gian khó thở gắng sức như đã tả ở trên.
Những bệnh nhân này ban ngày đứng, ngồi, thậm chí đi lại, cũng không thấy khó thở. Nhưng ban đêm, cứ nằm ngửa một lúc, là thấy khó thở. Có khi đã ngủ một giấc rồi, chợt thức giấc vì khó thở, phải ngồi dậy mới chịu được. Ngồi một lúc đỡ khó thở, lại nằm xuống ngủ tiếp để rồi có thể một lúc sau lại khó thở và tỉnh dậy. Cứ như thế có khi vài lần trong đêm, cứ nằm ngửa là khó thở, ngồi dậy lại dễ chịu. Những trường hợp điển hình, khó thở lại kèm ho nữa, bệnh nhân càng bị thức giấc nhiều.
Vì vậy, những bệnh nhân rút kinh nghiệm, đi ngủ gối đầu rất cao, có khi phải 3-4 cái gối mới ngủ được. Hoặc dùng cái chăn, tấm gỗ kê cho thân người cao lên mới dễ chịu. Nhưng khi gối bị tuột đi, người lại trượt xuống tư thế nằm ngang, thì khó thở lại quay trở lại.
Nặng hơn nữa, có bệnh nhân phải ngủ ngồi trên ghế bành, để người nhà nâng đỡ suốt đêm, hoặc phải quỳ chống hai tay lên giường mới chịu được (nằm phủ phục).
Sở dĩ bệnh nhân khó thở khi nằm ngang, vì lúc đó ngực ở thấp, máu càng ứ đọng ở phổi nhiều hơn, làm phổi càng kém co giãn, cơ thở càng “vất vả”. Thêm vào đó, khi nằm ngang, cơ hoành cũng bị các tạng trong bụng đẩy lên, chèn ép thêm vào hai phổi nữa.
Trong nhiều trường hợp, khi suy tim nặng lên, bệnh nhân lại có thể nằm ngang được. Đó là vì khi đó máu ứ đọng thêm ở gan và các phủ tạng khác, ở cả hệ tĩnh mạch nữa, nên đỡ gánh nặng cho phổi, và bệnh nhân dễ thở hơn.
3. Cơn khó thở đêm:
Người bệnh đang ngủ, bỗng nhiên lên một cơn khó thở dữ dội, ngồi dậy thõng hai chân cũng không đỡ. Thường lại kèm thêm ho và thở rít, người ngoài nghe bằng tai thường cũng thấy “cò cử” như ở người hen. Cho nên có người dùng chữ hen tim để chỉ những cơn khó thở do suy tim này. Còn phù phổi cấp cũng gần giống hen tim nhưng nặng hơn nhiều, không cấp cứu kịp thời có thể gây tử vong.
Cơn khó thở này là do ban đêm, trung tâm điều khiển hô hấp bị giảm sút, oxy trong máu bị hạ thấp. Không những thế, sức bóp của tim cũng giảm đi, vì hệ giao cảm ban đêm bị yếu. Các mạch máu trong phổi bị căng mạnh, kích thích các phế quản làm chúng co thắt lại như ở người hen, không khí đi qua chỗ hẹp rất khó khăn, gây nên tiếng cò cử.
5. Phù phổi cấp:
Đây là một dạng suy tim cấp, cực kỳ nặng, đòi hỏi cấp cứu thật nhanh chóng mới cứu được bệnh nhân. Ba bệnh tim mạch hay có biến chứng phù phổi cấp là: hẹp hai lá, nhồi máu cơ tim và tăng huyết áp.
Người bệnh đang bình thường hoặc đang ngủ, đột nhiên bị khó thở dữ dội, gây lo sợ hốt hoảng như có thể ngạt thở chết ngay. Đồng thời ho rất nhiều, khạc ra nhiều đờm, đờm có nhiều bọt, có khi rớm máu. Đờm rất nhiều, có khi khạc ra đầy chậu trong chốc lát! Bệnh nhân chuyển nhanh vào tình trạng rất nặng: mặt tái mét, chân tay lạnh, vã mồ hôi, thở nhanh nhưng rất nông, vật vã không yên. Không cần ống nghe cũng thấy thở lọc xọc, nhiều khi cò cử. Cần phải khám ngay bác sĩ, nếu không khó thở sẽ ngày càng tăng và tử vong là chắc chắn. Trong khi chờ đợi, cho bệnh nhân ngồi dậy, thõng hai chân xuống đất để máu đỡ bị dồn lên phổi.
6. Ho:
Người suy tim hay bị ho, nhất là khi gắng sức (làm nặng). Mỗi khi lên gác, lên dốc, mang vác nặng lại ho, bắt người suy tim phải ngừng lại. Hoặc chạy nhảy cũng dễ bị ho.
Ho trong suy tim là ho khan, không khạc được đờm, đôi khi chỉ ra ít nước rãi trong. Cho nên ho tái đi tái lại luôn, làm bệnh nhân mệt mỏi, mất ngủ, có khi khản cả tiếng.
Suy tim nặng hơn nữa, người bệnh bị ho nằm. Cứ ngả lưng là ho, bắt buộc phải ngồi dậy mới chịu được.
Một số trường hợp suy tim, thí dụ suy tim do hẹp hai lá, người bệnh bị ho ra máu. Máu thường ít, lẫn vài sợi với nước bọt hoặc đờm. Trong phù phổi cấp nói ở trên, đờm nhiều và cũng hay lẫn với máu.
Quan niện thông thường cho rằng lao phổi mới ho ra máu, vậy tại sao những người suy tim, không bị lao vẫn ho ra máu? Vì trong suy tim, máu ứ đọng ở tim trái, máu ở phổi không về tim được, phải ứ lại ở phổi, các mao mạch ở cuống phổi, bị căng và vỡ ra, gây ho ra máu. Cơ chế cũng giống như khó thở đã nói ở trên.
Đặc biệt trong suy tim do hẹp hai lá, cứ mỗi khi làm nặng là lại ho ra máu. Tôi đã gặp một bệnh nhân khai 3 lần ho ra máu, lần đầu do đạp xe ngược gió lên dốc, lần thứ hai do chạy lụt phải khuân đồ đạc lên đê, còn lần ba là sau khi...đi lễ tết bên quê vợ, phải lễ nhiều bàn thờ quá.
7. Phù:
Người suy tim hay bị phù, nhưng triệu chứng này chỉ xuất hiện khi suy tim khá nặng. Phù do suy tim ít khi phù lớn như người bị bệnh thận (nhất là hội chứng thận hư). Khi mới bắt đầu, bệnh nhân chỉ thấy hai mí mắt nặng khi ngủ dậy, mặt hơi phù như mọng nước; buổi chiều phù nhẹ hai bàn chân, giày dép đi buổi sáng vừa, chiều thấy chật. Lấy ngón tay ấn lên mắt cá chân, thấy khi nhấc ngón ra mà da vẫn lõm (phù ấn lõm).
Ở mức nặng hơn, phù tăng dần lên đến bụng làm bụng chướng, khó tiêu, nặng nề. Mặt to ra mới trông tưởng vì béo. Trường hợp này lên cân không phải điều đáng mừng mà đáng lo vì giữ nước nhiều quá.
Tại sao suy tim lại gây phù như vậy? Một là vì máu ứ đọng ở các tĩnh mạch, làm các mao mạch căng lên. Do đó, dịch trong máu chui qua thành mao mạch vào các vùng lân cận, gây nên phù. Hai nữa là do thận lọc kém, nước tiểu ít đi, nước tích lại trong người, cũng gây phù.
8. Đái ít:
Cũng là một rối loạn góp phần gây phù. Trong suy tim, máu đi nuôi cơ thể bị giảm sút, máu đến thận cũng ít đi. Vì vậy thận không thải ra được nhiều nước tiểu (trong đó có cả muối) như người bình thường.
9. Bụng chướng to:
Bụng chướng to làm người suy tim khó chịu, đầy bụng, kém ăn, nặng nề. Bụng chướng to ở đây một phần do gan bị ứ máu mà to ra, vì tim không đủ sức hút máu từ gan về tim. Một phần do phù ở da bụng, ở phủ tạng, có khi dịch nhiều tràn cả vào màng bụng nữa, gọi là cổ trướng. Chữa suy tim tốt, tất cả có thể trở lại bình thường, không như cổ trướng do xơ gan, rất khó khỏi.
10. Trống ngực:
Người bệnh thấy tim đập rất nhanh và mạnh trong lồng ngực, như trống làng. Tất nhiên làm việc gì nặng hay xúc động thì trống ngực rõ hơn, nhưng người suy tim dù ngồi nghỉ cũng thấy tim đập dồn dập. Tại sao tim bị suy lại đập nhanh chứ không đập chậm?
Thật ra thì tim đập nhanh là một phản ứng bù trừ có lợi cho bệnh nhân, vì đập nhanh tức là tăng được lưu lượng máu đến các tế bào, bù được chỗ giảm sút do sức bóp yếu. Nhưng nếu nhanh quá đáng thì phần bất lợi sẽ nhiều hơn, vì một là quả tim phải đòi hỏi nhiều oxy hơn trong khi cung cấp oxy đang khó khăn, hai là tim nhanh quá sẽ không đủ thì giờ nhận đầy máu nên mỗi nhát bóp chỉ đẩy được ít máu thôi.
Nhất là tim không những nhanh mà lại còn loạn nhịp hoàn toàn (rung nhĩ), thì cái hại lại càng lớn, vì tâm nhĩ bị tung, không đẩy được máu xuống tâm thất, lượng máu tâm thất đẩy đi trong mỗi nhát bóp lại càng ít nữa.
11. Mỏi mệt, yếu cơ:
Mệt mỏi, yếu cơ cũng là triệu chứng hay gặp. Người suy tim chỉ đi lại hoặc làm việc gì một chút là mệt mỏi. Một phần là mệt vì khó thở như đã nói ở trên, một phần các cơ chóng mỏi vì máu đến ít quá, oxy không đủ cung cấp cho các cơ.
12. Đau vùng gan (ở bụng trên bên phải):
Ít gặp hơn, chỉ khi nào gan bị ứ huyết to ra đột ngột, bệnh nhân mới đau. Còn phần nhiều gan ứ huyết to ra dần dần, vỏ xơ ở bên ngoài gan cũng giãn ra dần dần, đau không rõ rệt mà chỉ thấy nặng bụng vùng dưới mạng sườn phải.
Đoàn kết, Năng động và Phát triển
admin@dieuduongviet.net
"Bạn có một đôi mắt, một đôi tay và một trái tim...hãy để đôi mắt được nhìn rõ điều hay lẽ phải, đôi tay được lao động miệt mài và trái tim được cho nhận yêu thương đến nhịp đập cuối cùng"
-
The Following User Says Thank You to ADMIN For This Useful Post:
-
này anh admin lẽ ra khi người bệnh ngủ tức là họ nhỉ ngơi phải không có cơn khó thở về đêm chứ,vì suy tim là cung lương tim giảm khi lao động gắng sức,thừ là nếu không có gì tác động vào trung tâm hô hấp ở hành não thì cũng rất khó gây khó thở,suy hô hấp,mà do ban đêm lượng máu về tim nhều mà cơ tim đã suy không đưa máu đi được gây ứ máu ở phổi,máu quá nhiều gây thoát dịch máu qua màng trao đổi gây khó thở gọi là cơn hen tim biểu hiên rất giông1 cơn hen thường,có ho khó thở,thở rít,nhưng ho ra máu con hen thường ho khạc đờm trắng quánh,dính.(hiểu biết trung cấp nông cạn mong góp ý)
suy tim ngoài ra còn gây xơ gan do máu ứ tại gan nhưng thiếu oxi nếu quá lâu sẽ gây hoại tử tế bào nhu mô gan->xơ gan(do suy tim)đau tức vùng gan.nặng có thể có tuần hoàn bàng hệ vùng bụng,vùng đùi(kiến thức nông cạn mong chỉ giáo-trung cấp y hà nội)
-
-
Cảm ơn bạn về những lời nhận xét. Trước tiên, mong bạn bỏ mấy chữ ở trong dấu () đó đi được không? Kiến thức mênh mông vô bờ bến, không thể so sánh được vì không ai định lượng được toàn bộ kiến thức của mình và của người khác được. Có những điều mà người này nắm vững mà người kia biết sơ sài và ngược lại...
Về suy tim chúng ta cần biết được theo cách phân loại đơn giản nhất là bệnh nhân bị suy tim phải hay suy tim trái hay suy tim toàn bộ? Nguyên nhân chính gây ra suy tim đã được biết hay chưa? từ đó mới dám bàn đến những hậu quả tiếp theo tinhvan_1988 à.
Đoàn kết, Năng động và Phát triển
admin@dieuduongviet.net
"Bạn có một đôi mắt, một đôi tay và một trái tim...hãy để đôi mắt được nhìn rõ điều hay lẽ phải, đôi tay được lao động miệt mài và trái tim được cho nhận yêu thương đến nhịp đập cuối cùng"
-
-
Đi thi mà trả lời như đồng chí Tinhvan_1988 là dễ bị đánh trượt lắm
. Không cần mổ xẻ nhiều nhé, chỉ cần 3 chi tiết thế này:
Một là “suy tim là cung lượng tim giảm khi lao động gắng sức”. Xin thưa, cung lượng tim không giảm khi lao động gắng sức mà là cung lượng tim không đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Nôm na như là cái bập bênh mà một bên đã mất cân bằng. Hơn nữa, đến giai đoạn suy độ IV, thì dù có không lao động nặng, hoạt động của tim cũng không đủ đáp ứng cho cơ thể. Nói như bạn thì khi người bệnh hoạt động là cung lượng tim giảm, không hoạt động thì cung lượng tim tăng hay sao? Có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến cung lượng tim nào?
Hai là, bạn phân biệt hen tim và hen hô hấp thông thường ở điểm một đằng ho ra máu, một đằng ho ra đờm trắng. Không sai. Nhưng thưa với bạn, đến lúc ho ra máu thì có vấn đề lắm rồi. Những điều đầu tiên mà người ta nghĩ đến khi phân biệt hen tim với hen thường trước hết là: bệnh nhân có hen tim thông thường là đã có tiền sử suy tim (đến lúc này thường là suy tim mất bù rồi). Do đó, để phân biệt với hen thường người ta có thể dựa vào đánh giá vào tiền sử và một số dấu hiệu kèm theo như có phù chân hay không…Thứ hai, thời gian và yếu tố gây xuất hiện cơn hen cũng được nhận định. Hen tim thường xảy ra về đêm, đặc biệt là khi bệnh nhân đang ngủ bỗng nhiên thức dậy với biểu hiện cơn hen. Trong khi đó, hen thường xảy ra do một tác nhân kích thích nào đó mà chính bệnh nhân cũng có thể biết được. Nếu bạn đi thi mà trả lời như vậy thì bạn sẽ nhận được câu hỏi tiếp theo là thế nếu bệnh nhân không ho ra máu thì làm sao em phân biệt hen tim với hen thường?
Ba là, như admin đã nói, để nói triệu chứng của suy tim bạn phải căn cứ vào suy tim ở đâu: tim trái, tim phải, hay suy toàn bộ? Một phương án khác là bạn trả lời theo liệu suy tim còn bù hay mất bù, suy độ mấy? Bạn gộp tất cả các loại suy tim vào làm một rồi bảo rằng suy tim gây hen tim rồi gây xơ gan…như thế xem ra không ổn.
Với câu hỏi tại sao bệnh nhân suy tim lại khó thở về đêm, câu trả lời đã có ở bài viết của admin và bạn cũng đã có trong đầu nhưng mới chỉ nhớ mà chưa áp dụng. Bạn hãy đọc lại hai thứ: một là sự phân bố máu của cơ thể ở các tư thế; hai là sự thay đổi trong hoạt động của hệ thần kinh thực vật về đêm, đặc biệt là xem xem hệ giao cảm hay phó giao cảm chiếm ưu thế khi người bênh nghỉ ngơi về đêm. Chắc chắn Tinhvan sẽ có câu trả lời!
Lần sửa cuối bởi longnh, ngày 08-10-10 lúc 19:59.
-
-
vâng thua bạn trả lời như bạn thì không bị đánh trượt sao.bạn lên nhớ cơn hen phế quản cũng rất hay khởi phát về đêm chứ không hẳn là cứ phải có yếu tố kích thích mới hen,đôi khi chỉ cần gắng sức,nhiễm khuẩn,hay yếu tố vật lí nào đó là gây hen,nếu là bẩm sinh thì thôi rồi,thứ 2 tôi không gộp hen tim với xơ gan mà tôi bổ xung thêm 1 nguy cơ nữa cho người bệnh,thứ 3 là bạn bảo tôi không cần mổ xẻ sâu như thế đi học mà không tìm tòi không đặt ra câu hỏi tại sao? trả lời qua quýt chỉ có trượt thôi.nói như bạn thì khỏi cần bàn luận xây dựng cái mục này làm gì kiến thức có trong sách hết rồi.tôi đang thi hẹn vài bữa nữa quay lại thỉnh giáo bạn
-
-
bạn lên nhớ cơn hen phế quản cũng rất hay khởi phát về đêm chứ không hẳn là cứ phải có yếu tố kích thích mới hen,đôi khi chỉ cần gắng sức,nhiễm khuẩn,hay yếu tố vật lí nào đó là gây hen,nếu là bẩm sinh thì thôi rồi,
tôi đồng ý với ý kiến của longnh, còn bạn tinhvanmâu thuẫn đùng đùng, cái "đôi khi" của bạn là cả 1 đống yếu tố kích thích rồi đó.
Suy tim là hoạt động bơm máu của tim trở nên ngày càng yếu đi và không còn khả năng bơm máu tốt như lúc đầu nữa. Khi đó, máu không chảy một cách hiệu quả qua toàn bộ hệ thống tuần hoàn nữa và bắt đầu ứ đọng lại làm gia tăng áp lực lên cách mạch máu dẫn đến việc dịch từ các mạch máu đi vào trong mô cơ thể.
Khi tim trái bị suy, dịch bắt đầu tích tụ ở phổi (phù phổi). Lượng dịch dư thừa bên trong phổi (sung huyết) chèn ép làm cho đường dẫn khí khó dãn nở hơn khi hít vào. Bệnh nhân bắt đầu khó thở, thở hụt hơi, đặc biệt là khi hoạt động hoặc lúc nằm xuống.
Khi tim phải bị suy, dịch tích tụ ở bàn chân và cẳng chân. Khi tim suy nặng hơn, phần trên của chân bắt đầu sưng lên và cuối cùng là dịch sẽ tích tụ ở bụng (ascite - bụng báng). Số cân nặng cơ thể tăng lên có liên quan đến sự tích tụ dịch là thước đo tốt nhất để kiểm tra lượng dịch bị ứ đọng bên trong cơ thể. Phù (sưng) là một dấu hiệu của suy tim phải, nhất là dạng phù mềm ấn lõm. Phù mềm ấn lõm có nghĩa là khi ấn một ngón tay vào vùng chân bị phù rồi bỏ ra sẽ để lại dấu ngón tay ở vị trí ấn. Những dạng phù không ấn lõm không phải gây ra bởi suy tim.
Khi suy tim tiến triển nặng hơn, dịch sẽ tích tụ lại bên trong phổi và ngăn không cho oxy đi vào máu gây ra khó thở khi nghỉ ngơi và vào ban đêm (khó thở khi nằm).
Khi bệnh nhân bị suy tim, họ có thể thức dậy lúc nửa đêm, thở hụt hơi và phải ngồi hoặc đứng dậy để cảm thấy khá hơn, tình trạng này được gọi là khó thở bộc phát về đêm.
Lần sửa cuối bởi tentaikhoan, ngày 08-16-10 lúc 20:31.
-
-
có thể cho send mìh khcs của người bị suy tim đc ko??? tks nhiều....
-
-
xin lỗi admin cho em hỏi? suy tim có thế là suy tim phải, suy tim trái hay suy tim toàn bộ nhưng bài viết của anh ko chỉ ra biểu hiện nào là đặc trưng của suy tim phải, biểu hiện nào là của suy tim trái hay suy tim toàn bộ? Dù sao cung thank admin đang tìm tài liệu thì đọc ngay được bà viết này :D
-
-

Gửi bởi
red apple
[Bạn không thể nhìn thấy link cho đến khi đăng ký, nhấn vào đây để đăng ký]
xin lỗi admin cho em hỏi? suy tim có thế là suy tim phải, suy tim trái hay suy tim toàn bộ nhưng bài viết của anh ko chỉ ra biểu hiện nào là đặc trưng của suy tim phải, biểu hiện nào là của suy tim trái hay suy tim toàn bộ? Dù sao cung thank admin đang tìm tài liệu thì đọc ngay được bà viết này :D
Suy tim trái: ho khó thở, khạc đờm màu hồng ( cơn hen tim hay phù phổi cấp), nhịp tim nhanh. Khó thở càng tăng nếu để bệnh nhân nằm đầu thấp ( máu ứ ở phổi càng tăng) hay gắng sức. Điện tâm đồ: dày thất trái. Chụp phim: tim trái to.
Suy tim phải: tĩnh mạch cổ nổi, phù, gan to, tràn dịch màng phổi, cổ trướng.
Suy tim toàn bộ: các triệu chứng sẽ phối hợp và trên phim sẽ thấy tim to toàn bộ. Bệnh nhân luôn trong tình trạng khó thở, phù, tím, mạch nhanh, rối loạn nhịp tim, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, huyết áp thấp, rất dễ gây tử vong đột ngột.
Để hiểu rõ hơn về bệnh sinh và cơ chế, bạn vào trang sau:
[Bạn không thể nhìn thấy link cho đến khi đăng ký, nhấn vào đây để đăng ký]
-
-
mọi người ơi em có vài ý kiến thêm vào nữa. suy tim chia ra là suy tim trái, phải, toàn bộ.tronh sách sinh lý bệnh ghi rõ là
suy tim trái có biểu hiện (ai không thích thì gọi là hậu quả cũng đc) là khó thở tăng theo khi hoạt động, do khi tim suy=>hoạt động yếu=>máu bị ứ trệ ở phổi=>phổi giảm/mất tính đàn hồi=>giảm dung tích sống=>thiếu oxy ở tổ chức(nói một chút về khó thở nhé:là tình trạng các cơ hô hấp đã hoạt động hết mức song vẫn không đủ , dưới mức yêu cầu kích thích của tw hô hấp) hen tim diễn ra về đêm là cơn khó thở mạnh diễn ra về đêm do cường tk phế vị trong khi ngủ gây sung huyết phổi và co thắt co trơn phế quản. phù phổi cấp là hq nguy hiểm của suy tim nếu không đc cấp cứu kịp thời bn=> tử vong, còn đc gọi là chết đuối trên cạn.cơ chế tim trái suy,tim phải bt, khi có kích thích tim phải tăng hoạt động tống máu lên phổi=>áp lực thủy tĩnh tăng,ứ trệ tuần hoàn ở phổi->sinh ra các chất chuyển hóa không hoàn toàn cùng với co2 tăng gây giãn mạch tăng tính thấm=>đẩy dịch vào trong lòng phế nang =>trên lâm sàng sẽ nghe thấy ran ướt. ngoài ra còn có một số thay đổi về hô hấp khác nữa mọi người tìm hiểu lấy nhé
trái ngược với suy tim trái , suy tim phải lại có biểu hiện chủ yếu ở vòng tiểu tuần hoàn
khi nào mình gõ tiếp
đọc có ích thì cầm....?
-
Quyền viết bài
- Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
- Bạn Không thể Gửi trả lời
- Bạn Không thể Gửi file đính kèm
- Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
Nội quy - Quy định
Múi giờ GMT +7. Bây giờ là 05:08.
Contact us: admin@dieuduongviet.net
Designed by
Đánh dấu